Kể từ khi Phật giáo được truyền vào Nhật Bản, cũng như thuở ban đầu Phật giáo được truyền vào các nước khác, chỉ là Phật giáo chung chung theo hướng sơ khởi hoặc bắc truyền hoặc nam truyền từ cái nôi Ấn Độ. Phật giáo Nhật Bản, cũng như các nước trong khu vực giao thương với Trung Hoa, đã nhận được truyền thống Phật giáo Bắc truyền (Mahayana), trước thời Thánh Đức thái tử (574 - 622), để vào triều đại của ngài Phật giáo đã được định hình vững vàng và đã trở thành quốc giáo như sách sử đã ghi và kể từ đấy Phật giáo được phân chia ra nhiều tông phái tạo nên một Phật giáo muôn màu muôn vẻ ở chốn Phù Tang này.
Xuất phát từ tư tưởng đại thừa Phật giáo, tư tưởng Tịnh độ có mặt trong các kinh điển đại thừa, tuy nhiên có thể nói đến thời của Thiện Đạo đại sư (善導大師、613 - 641) Trung Quốc, tư tưởng này mới chính thức được lập giáo và sau này trở thành Tịnh độ tông. Với sự lập giáo này của Tịnh độ tông, theo đà du nhập chung bởi những nhà truyền giáo, tư tưởng này đã được lưu hành ở Nhật bản như là một pháp môn tu tập dành cho cả tầng lớp quý tộc lẫn bình dân, đến thế kỉ thứ 12, tư tưởng của tông phái này được chính thức khởi xướng với người dẫn đầu là Pháp Nhiên đại sư (法然, Hoonen, 1133-1212), người được xem là Sơ tổ Tịnh độ tông Nhật Bản và Nguyên tổ của Tịnh độ Chân tông sau này.
Tịnh độ tông
Cũng như tịnh độ tông của các nước thuộc Bắc truyền Phật giáo, giáo nghĩa của Tịnh độ tông Nhật Bản đặt nền tảng y cứ vào Tịnh độ tam kinh, gồm có Phật thuyết Vô lượng thọ kinh, Phật thuyết Quán vô lượng thọ kinh và Phật thuyết A di đà kinh. Bên cạnh đó, “Quán vô lượng thọ kinh sớ” trước tác bởi đại sư Thiện Đạo đã được ngài Pháp Nhiên lấy làm căn bản và sau này ngài đã trước tác ra bộ “Tuyển trạch bổn nguyện niệm Phật tập”, và bộ luận này đã trở thành giáo điển căn bản của Tịnh độ tông Nhật bản.
Phật giáo đại thừa ở Nhật Bản, có thể nói là một cành cây mọc ra nhiều hoa trái với nhiều chủng loại và màu sắc độc đáo. Tuy nhiên, sự phát triển đó đã không phải là không gặp nhiều chướng ngại, bên cạnh đặc tính nhu nhuyến của đại thừa khai phương tiện để tồn tại với một dân tộc có tín ngưỡng căn để là Thần đạo (Shinto), sự chứng đắc và quyết tâm bảo vệ niềm tin vào con đường đã lựa chọn của những bậc tổ sư sáng lập đã đủ sức đánh dẹp những tác động của một vài kẻ mang phàm tâm đố kỵ. Tịnh độ tông thời thành lập đã trải qua nạn kỳ đó. Sau khi rời Tỷ Duệ sơn để bắt đầu xiên dương tông chỉ của Pháp môn tịnh độ với quần chúng, sự việc thu hút tín đồ tin theo đã đưa Tịnh độ tông thời mới định hình non trẻ cũng như sư đồ của tông phái này đến bước đường cam go đày ải, vì lòng đố kỵ phàm phu của một vài thành viên thuộc tông phái cũ cho pháp môn này là tà giáo và dâng tấu triều đình, thầy trò ngài Pháp Nhiên bị đày đi mỗi người mỗi hướng cách xa thủ đô Kyoto. Tuy nhiên, niềm tin và con đường hành trì không vì thế mà gián đoạn, ngài Pháp Nhiên và những vị tăng đệ tử ngài vẫn chuyên cần miên mật vào con đường niệm Phật và quyết tâm hoằng truyền pháp môn này.
Sau khi ngài Pháp nhiên viên tịch, Tịnh độ tông đã được truyền thừa bởi các đệ tử đắc pháp của ngài, chư tăng đã tích cực xiển dương giáo nghĩa làm nên bốn phái lớn mạnh mà lịch sử gọi là “Tịnh độ Tứ lưu”, bốn dòng chính của tông tịnh độ, và đến nay còn lại hai dòng phái là “Chấn tây phái” và “Tây sơn phái”.
Có thể nói sự tiên phong và xiển dương một cách tích cực pháp môn Tịnh độ của Pháp Nhiên tổ sư và những môn đệ ngài đã tạo ra một ảnh hưởng lớn về pháp môn tu niệm Phật trong tầng lớp người dân Nhật Bản, khơi dậy một niềm tin luôn khát khao tiềm ẩn rằng có một đấng tha lực sẽ ra tay cứu độ khi mà con người bước vào cảnh giới sau sự sống này. Và ngày nay người dân Nhật dù là tín đồ hay không phải tín đồ Phật giáo, dù suốt cuộc đời không hề bước chân đến cổng chùa, ngày trọng đại của cuộc đời đã làm lễ kết hôn trong thánh đường thiên chúa giáo mang đầy nét văn hóa Tây âu, nhưng trong tâm thức của họ, phần sau của cuộc đời họ sẽ được cứu vớt bởi đức Phật A Di Đà, được đi theo sức tiếp dẫn của Phật A Di Đà để được vãng sanh cực lạc, đó là một điều hoàn toàn có thật ở người dân xã hội Nhật Bản hiện nay. Sự thành công của Tịnh độ tông đặc biệt nhất đã được xem là đáp ứng được nhu cầu của con người về những điều mà con người không đủ tự tin rằng khả năng mình làm được, khai triển tích cực về pháp môn tu tập y tha lực được đức Phật Thích Ca tuyên thuyết bàng bạc trong Tam kinh.
Ngoài sự thành công tạo ra một sức ảnh hưởng lớn về tín ngưỡng Di Đà trong quần chúng, Tịnh độ tông Nhật bản đã có có một số lượng tín đồ áp đảo so với các tông phái khác tại Nhật hiện nay. Chùa chiền, thánh tượng Tam tôn Tây phương được tôn thờ rất phổ biến khắp nơi. Bên cạnh đó, tông phái này hiện đang sở hữu bảy trường đại học và nhiều trường trung học, cao đẳng nằm rải rác ở những thành phố lớn như Tokyo, Kyoto, Osaka, Nagoya… tại Nhật Bản.
Tịnh độ Chân tông
Nhắc đến tông phái Tịnh độ tại Nhật Bản không thể nào không nhắc đến Tịnh độ Chân tông, một tông phái được phái sinh ra từ Tịnh độ tông Nhật bản, thế nhưng nó không nằm trong “tịnh độ tứ lưu” phái của Tịnh độ tông mà là một tông phái độc lập như những tông phái khác. Tên gọi “Tịnh độ chân tông” với ý nghĩa là pháp môn tu chỉ chân chất duy nhất về Tịnh độ, tên gọi ấy có thể chỉ là để tách biệt rõ ràng với Tịnh độ tông, và bên cạnh đó cũng để nói lên một cách tách bạch về tông chỉ của mình, một pháp môn tịnh độ lấy niềm tin cứu độ của đức A Di Đà là trung tâm và chỉ chuyên cần vào một mục tiêu đó, không có một sự bổ túc đan xen nào ngoài tư tưởng tịnh độ được coi trọng trong đời sống tôn giáo tâm linh của tông phái này, kể cả không câu nệ hình thức tăng tục và truyền thống đời sống tăng già Phật giáo. Có thể nói, điều này là điều khác biệt cơ bản để lập tông của tông phái này, và sự bắt đầu của hệ tư tưởng Chân tông tịnh độ đã dựa vào cuộc đời và hành trạng của ngài Thân Loan, một nhân vật được xem là tổ sư của Chân tông Tịnh độ.
Thân Loan (親鸞, shin ran) sinh năm 1173 tại Kyoto, Nhật Bản, 9 tuổi xuất gia tu tập ở núi Tỷ Duệ thuộc dòng Thiên Thai tông, trải qua mấy mươi năm tu tập nhưng ngài phát hiện mình không thể đoạn trừ phiền não để chứng đắc thánh quả được nên quyết định tìm cầu phương pháp khác. Thời đó ngài Pháp Nhiên đang xiển dương giáo nghĩa tịnh độ, nhận thấy mình có thể kết duyên với phương pháp này, nên ngài đã xuống núi đến lễ ngài Pháp Nhiên làm thầy và tu tập theo Tịnh độ tông. Nạn Nguyên Cửu[1] đã đưa đẩy thầy trò ngài Pháp Nhiên mỗi người mỗi hướng và điều đó đã được xem là bước ngoặt đưa Thân Loan vào một ngã rẽ quan trọng trong cuộc đời.
Theo tài liệu ghi chú còn để lại, vào thời đó, Tăng sỹ Phật giáo nếu được coi phạm tội sẽ bị buộc phải rời bỏ hình thức tu sĩ Phật giáo để chịu hình phạt của luật pháp, luật pháp quốc gia không gia hình đối với các tu sĩ “đầu tròn áo vuông”. Và vì vậy, ngài Thân Loan đã nhận tội hình đày đi Việt Hậu (Etsugo) dưới một hình thức không còn là tu sĩ nữa. Từ nhân duyên đó, trong thời gian nhận tội lưu đày Thân Loan đã kết hôn và sinh hạ sáu người con. Tài liệu về cuộc sống riêng tư này của Thân Loan không rõ nét lắm, nhưng một điều có thật một cách công khai là Thân Loan đã lập gia đình, rời bỏ đời sống tăng sĩ nghiêm thủ giới luật mà ngài đã chọn từ bé cho đến lúc bị lưu đày.
Với hình thức gia duyên ràng buộc như thế nhưng Thân Loan không vì vậy mà từ bỏ niềm tin cũng nhưng pháp hành cầu mong nhận sự tiếp dẫn của đức Phật A Di Đà để được vãng sanh về Tây phương cực lạc. Không những thế, niềm tin vào pháp môn Tịnh độ và nhiệt huyết hoằng truyền pháp môn này đến với mọi người không vì chướng duyên gì ngăn trở được, không câu nề đến hình thức “phi tăng sĩ” ngài đã một mực rao giảng pháp môn niệm Phật và bên cạnh đó viết ra bộ luận lớn mà về sau tín đồ Pháp môn này xem đó là bộ luận chính của Tịnh độ chân tông, đó là bộ “Giáo hành Tín chứng” hay còn gọi là “Hiển Tịnh độ chân mỹ giáo hành chứng văn loại” (顕浄土真実教行証文類), và có lẽ tựa đề của tác phẩm cũng là một trong những lời giải thích chính cho tên gọi tông phái này.
Theo những gì Thân Loan đã viết trong tác phẩm của mình, Thân Loan không có ý tự thành lập một tông phái mới và để trở thành tổ sư, ngài luôn nhắc lại các bậc cao tăng thuộc tịnh độ tông và thầy mình với kính từ “Pháp Nhiên thượng nhân”. Tuy nhiên, sau thời Thân Loan viên tịch, sự cạnh tranh “pháp của thầy ai hơn” đã xảy giữa hai vị sa di thời đức Phật một lần nữa xảy ra giữa các hàng môn đệ Tịnh độ tông và có thể nói đây là nguyên nhân sau cùng để tịnh độ chân tông được tách lập.
Về giáo nghĩa, Tịnh độ chân tông không có gì khác với Tịnh độ tông cả về mục đích, pháp hành, và kinh luận y cứ ngoài việc bổ túc thêm trong hạng mục với tác phẩm “giáo hành tín chứng” của tổ sư Thân Loan, với mục đích hiển bày nội dung chủ yếu của nền giáo lý Tịnh độ được xiển dương bởi 7 vị cao tăng Ấn Ðộ, Trung Quốc và Nhật Bản gồm, Bồ-tát Long Thọ (-250), Bồ tát Thế Thân (-400), Ðại sư Ðàm Loan (476-542), Ðại sư Ðạo Xước (562-645), Ðại sư Thiện Ðạo (613-681), Hòa thượng Nguyên Tín (942-1017), Thánh nhân Nguyên Không (Pháp Nhiên) (1133-1212). Tuy nhiên, sự cách tân của tông phái này về cái gọi là “không câu nệ hình thức” do sức ảnh hưởng từ cuộc đời và hành trạng của Thân Loan đã đưa Tịnh Độ chân tông trở thành một tông phái đặc biệt lạ lùng về mặt hình thức đối với cộng đồng Phật giáo thế giới.
Ngày nay ở Nhật Bản, tông phái này đã chiếm con số áp đảo về số lượng tín đồ, hội đoàn, chùa chiền, và trường học trực thuộc. Chưa tính đến con số không nhỏ các trường cao đẳng, trung học và tiểu học, chỉ riêng con số trường đại học và đại học ngắn hạn những trường trực thuộc tông phái này đã lên đến hai mươi bốn trường trên toàn quốc và một trường ở California, Mỹ.
Có thể nói, từ sức ảnh hưởng của Tịnh độ Chân tông, một tông phái đang chiếm tỷ số hai phần ba tín đồ Phật giáo Nhật Bản đã có một sức ảnh hưởng lớn về bộ mặt Phật giáo của đất nước này. Đã từng có sự ngộ nhận rằng Tịnh độ chân tông chính là Tịnh độ Tông Nhật bản, bởi nét tương đồng hầu như hoàn chỉnh về mặt giáo nghĩa và mục đích, ngoài sự khác biệt về hình thức đời sống tự viện và sinh hoạt tăng già truyền thống, với sự khác biệt cơ bản này, hai tông phái vẫn giữ lập trường riêng của mình và tách bạch rõ ràng như những tông phái khác tại Nhật hiện nay. Đã từng có rất nhiều đánh giá và ý kiến ủng hộ hoặc phản bác về tông phái được xem là phát triển một cách quá đà đến mức như là một đứa con hoang của Đại thừa Phật giáo này, tuy nhiên dù với ý kiến như thế nào, Đại thừa vẫn là một con thuyền lớn dùng nhiều phương tiện cứu vớt chúng sanh, và những thành tựu đạt được để phát triển của tông phái này là một điều phải công nhận.
Đã gần một thiên niên kỷ trôi qua kể từ ngày lập giáo, Tịnh độ chân tông đã được định hình và phát triển vững vàng chính nơi mảnh đất mà nó đã được sinh ra, nơi đã ươm giống cành cây bồ đề Ấn độ bằng chính những chất liệu của mình để tạo ra những cành lá đầy tính đặc trưng của Nhật bản. Và có thể nói chỉ là ở Nhật Bản thôi, bởi sự bắt chước hay mô phỏng nào cũng trở nên khập khiễng và khiên cưỡng nếu không bắt đầu từ hạt giống đầu tiên và mảnh đất ươm mầm phù hợp.
Từ “pháp nạn Thừa Nguyên[1]” đến “phế Phật hủy Thích[2]”, một chặng đường dài có khi tưởng chừng lung lay đến tận gốc rễ, vận mệnh của Phật giáo nói chung và tịnh độ tông, tịnh độ chân tông nói riêng đã bước qua những chặng lên xuống theo dòng lịch sử thịnh suy. Và ngày nay, Phật giáo Nhật bản vẫn đang tồn tại hai dòng phái tịnh độ, cùng song hành xiễn dương tông chỉ Niệm Phật vãng sanh.
Khải Tuệ
--------------------------------------------------------------------------------
[1] Niên hiệu Thừa Nguyên năm 1204, triều đình ra chiếu đình chỉ pháp môn niệm Phật vì bị cho là tà giáo và lưu đày thầy trò ngài Pháp Nhiên khỏi thủ đô Kyoto.
[2]Tên gọi của pháp nạn xảy ra thời Minh Trị năm thứ 3 (1870), triều đình ban bố lệnh phá hủy Phật tượng, chùa chiền, Tăng lữ hoàn tục và đình chỉ tất cả những hoạt động gì liên quan Phật sự.
Nguồn: Tập San Pháp Luân 69


Phật Học